Dưới đây là một số vitamin và khoáng chất để nâng cao sức đề kháng và miễn dịch, nhằm gian virus corona:
Vitamin A
Người ta còn gọi là "vitamin chống nhiễm khuẩn, virus", có vai trò rõ rệt cả với miễn nhiễm dịch thể và miễn nhiễm tế bào. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn ở trẻ em mà nguyên nhân do thiếu vitamin A rất cao. Thiếu vitamin A liên tưởng chém đẹp đến suy dinh dưỡng (tăng trưởng kém), tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ con. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng biện pháp bổ sung vitamin A có thể làm giảm 23% tử vong ở con trẻ.
Vai trò của vitamin A với đáp ứng miễn nhiễm được biểu hiện ở vai trò của vitamin A với tính toàn vẹn của các biểu mô. Thiếu vitamin A các biểu mô quá sản, sừng hóa, các tuyến ngoại tiết giảm bài xuất, khả năng cản trở sự thâm nhập của vi khuẩn giảm đi. Da và niêm mạc khô dẫn đến dễ nhiễm khuẩn. song song, nếu bôi mỡ có chứa vitamin A vào các tổn thương ở da có tác dụng thúc đẩy quá trình nhanh liền sẹo.
Vitamin A có nhiều trong gấc, bồ ngót, rau dền cơm, gan gà, gan lợn, gan bò...
Vitamin E
Vitamin E (tocopherols) làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị thương tổn, do đó tăng sức đề kháng của thân thể với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn. Làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí tuệ (Alzheimer), bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị oxy hóa, tham dự vào chuyển hóa tế bào. Vitamin E bảo vệ các chất béo trong não khỏi các gốc tự do, đặc biệt là các chất béo omega-3 DHA và EPA, trong đó tập trung ở tế bào tâm thần.
Khoa học cho thấy tocotpherols là chất bảo vệ tế bào thần kinh quan yếu, vì giúp chặn các tín hiệu viêm xoá sổ tế bào não. Những người ăn nhiều loại thực phẩm từ tocopherols cho thấy giảm đáng kể việc suy giảm nhận thức và bệnh Alzheimer. Bên cạnh việc bảo vệ tế bào thần kinh, vitamin E cũng có liên hệ đến gian bệnh ung thư và bảo vệ tim mạch.
Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm cỗi nguồn thiên nhiên: đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch, dầu hướng dương, dầu ô-liu và các loại rau có lá màu xanh đậm.
Vitamin C
Vai trò tăng cường miễn dịch, chúng tương trợ sinh sản interferon-là loại protein do tế bào thân thể tạo ra để chống lại tác nhân gây bệnh, là thành phần đạm quan trọng của hệ miễn dịch. cấp thiết cho các tế bào miễn nhiễm T và bạch huyết cầu. Từ đó làm tăng chức năng của hệ miễn dịch.
Vitamin C giúp tiếp thu tốt chất sắt để tạo máu, hỗ trợ chuyển sắt từ huyết thanh vào ferritin để dự trữ ở gan và phóng thích sắt từ ferritin vào huyết thanh khi có nhu cầu. Giúp tiếp thu tốt canxi bằng cách ngăn can xi chuyển thành dạng khó hòa tan. Chuyển acid folic từ dạng không hoạt động thành dạng hoạt động và giữ ổn định ở dạng hoạt động.
ngoại giả, vitamin C còn có tác dụng chống oxy hóa, phòng bệnh tim mạch và tạo collagen là thành phần chính của mô kết liên như sụn, xương, răng, cho sự bền vững của mao mạch và của da. Thiếu vitamin C, sự nhạy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, người bị nhiễm khuẩn thì vitamin C trong máu thường giảm, thiếu vitamin C tính thấm mao quản tăng, mạch dễ vỡ, da khô ráp.
Nếu ăn đủ vitamin C, các glubulin miễn nhiễm IgA và IgM tăng, hoạt tính của bạch huyết cầu tăng, kích thích chuyển dạng các lymphô bào và giúp tạo thành các bổ thể. Vitamin C giúp tăng thu nhận các chất khoáng vi lượng (sắt, kẽm...) là những vi chất dinh dưỡng cấp thiết cho hoạt động trí não.
Hơn 90% lượng vitamin C có trong khẩu phần ăn được cung cấp từ các loại trái cây và rau củ. Các thực phẩm giàu vitamin C: rau ngót, rau mùi tàu, rau dền, rau đay, rau mùng tơi, hành hoa, các loại quả như bưởi, đu đủ, quýt, cam, chanh...
Vitamin nhóm B
Trong các vitamin nhóm B, vai trò folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp của các tế bào dự vào các cơ chế miễn dịch. rưa rứa như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn nhiễm qua trung gian tế bào. Trên thực tế ở con nít nhất là nữ giới có thai, thiếu folat thường đi kèm thiếu sắt là hai yếu tố gây thiếu máu dinh dưỡng. Thiếu pyridoxin (vitamin B6) làm chậm các chức năng miễm dịch, cả dịch thể và trung gian tế bào.
Các vitamin nhóm B có nhiều trong cám gạo, ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, mầm tiểu mạch, tim, gan.
Ngoài ra, rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm được nghiên cứu nhiều hơn cả.
Sắt
Sắt cấp thiết cho tổng hợp AND, tức thị nó cần thiết cho quá trình phân bào. Ngoài ra sắt còn tham dự vào nhiều enzym can thiệp vào quá trình phân giải bên trong tế bào. Thiếu sắt, nhiễm khuẩn tăng. Thiếu sắt thường kèm theo thiếu protein - năng lượng, nên chi khi bổ sung sắt cho con nít suy dinh dưỡng cần để ý sau khi đã phục hồi dinh dưỡng từ 5 đến 7 ngày, nếu không sắt tự do sẽ là nhân tố thuận tiện cho phát triển các vi khuẩn. Sắt gây ảnh hưởng đến miễn nhiễm qua trung gian tế bào hơn là miễn nhiễm dịch thể. Do đó tiêm chủng để chống các bệnh nhiễm khuẩn vẫn có tác dụng ở những trẻ em bị thiếu sắt vừa phải. Ở nơi có bệnh sốt rét, việc bổ sung sắt cần đi kèm với uống thuốc phòng sốt rét.
Sắt có nhiều trong nấm mèo, nấm hương, rau dền đỏ, đậu tương, tiết bò, bầu dục lợn, lòng đỏ trứng vịt, cua đồng...
Kẽm
Kẽm có vai trò sinh học rất quan yếu là tác động tuyển lựa lên quá trình tổng hợp, phân giải acid nucleic và protein. Kẽm giúp tăng cường miễn nhiễm, giúp làm vết thương mau lành và giúp duy trì vị giác, khứu giác. Kẽm dự vào hàng trăm enzym chuyển hóa trong thân thể, thành thử khi thiếu kẽm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa do giảm sức đề kháng. Ngoài ra khi thiếu kẽm trẻ thường có biểu lộ biếng ăn chậm lớn, chậm phát triển chiều cao.
Các thức ăn giàu như thịt, cá, tôm, sò, sữa, trứng, ngao, hàu...
Mọi người cần thực hành bổ sung vi chất dinh dưỡng (viên đa vi chất dinh dưỡng, hoặc sản phẩm dinh dưỡng có chứa vi chất sắt, kẽm, vitamin A, D, E...) nếu khẩu phần ăn không đủ các chất dinh dưỡng nói trên, hoặc khi thân thể được bác sĩ dinh dưỡng chẩn đoán là bị thiếu vi chất dinh dưỡng.
Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến
trọng điểm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng nhà nước